Gà giống bình định

HỎI ĐÁP

TRẢ LỜI CÂU HỎI NGƯỜI DÂN

Những thắc mắc của người dân được các chuyên gia CÔNG TY TNHH PHƯỚC ĐA trả lời và tư vấn. Hãy gửi thắc mắc cho chúng tôi?

Những điều cần lưu ý khi nuôi gà là gì ?

Trước nguy cơ dịch bệnh bùng phát trong mùa đông, những hộ chăn nuôi gà cần đảm bảo tốt yếu tố vệ sinh chuồng trại, phòng bệnh. Để việc chăn nuôi phát triển bền vững, bà con cần lưu ý một vấn đề sau:

Trước nguy cơ dịch bệnh bùng phát trong mùa đông, những hộ chăn nuôi gà cần đảm bảo tốt yếu tố vệ sinh chuồng trại, phòng bệnh. Để việc chăn nuôi phát triển bền vững, bà con cần lưu ý một vấn đề sau:

Con giống

Chọn con giống sạch bệnh, có xuất xứ rõ ràng, được lấy từ bố mẹ đã được tiêm phòng đầy đủ các loại vắc-xin. Các lò ấp phải đạt tiêu chuẩn kỹ thuật và có quy trình vệ sinh định kỳ, được cơ quan thú y chứng nhận đạt yêu cầu.

Chuồng trại

Chuồng nuôi cách xa nhà ở và đường giao thông đông người qua lại, không nằm trên hướng gió chính so với nhà ở. Chuồng nuôi phải cách ly với môi trường xung quanh, không nuôi nhốt chung gà với các loại gia súc, gia cầm khác. Trước cửa ra vào phải có hố sát trùng bằng vôi bột hoặc các loại dung dịch sát trùng khác. Khu vực nuôi phải có hố ủ phân và xử lý chất thải, khu cách ly gà bệnh, yếu, què chân…

Thức ăn

Đối với gia cầm, thức ăn và nước uống rất quan trọng, đặc biệt trong giai đoạn gà còn nhỏ. Việc thay đổi thức ăn thường xuyên hoặc trong điều kiện chăn nuôi thiếu nước uống, không đảm bảo chất lượng, kém vệ sinh sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe, khả năng tăng trọng của gà. Do đó, phải quan tâm cho gà ăn đảm bảo đủ chất và lượng.

Chăm sóc, nuôi dưỡng

Để đảm bảo đàn gà phát triển tốt, không xảy ra dịch bệnh, từ giai đoạn úm gà con đến khi thả vườn phải lưu ý đến nhiệt độ, độ ẩm chuồng nuôi, gió lùa… Nhiệt độ phải phù hợp cho từng giai đoạn tuổi của gà, đảm bảo không bị lạnh hoặc quá nóng bức. Thức ăn, nước uống phải đảm bảo hợp vệ sinh, đủ nhu cầu dinh dưỡng cho từng giai đoạn sinh trưởng, hạn chế tối đa thay đổi thức ăn vì sẽ ảnh hưởng đến quá trình tiêu hóa và hấp thụ dinh dưỡng của gà.

Thú y

Đảm bảo tiêm phòng đầy đủ các loại vắc-xin theo khuyến cáo của cơ quan thú y. Ngoài ra, cần tăng cường các loại kháng sinh và thuốc bổ, thuốc trợ sức định kỳ trong trường hợp thời tiết thay đổi.

VỆ SINH SÁT KHUẨN, KHỬ TRÙNG

I) Nguyên tắc Sát trùng
1. Nguyên tắc vệ sinh, sát trùng:

– Phải luôn luôn làm sạch tất cả phân và các chất bẩn. Khi có phân là có vi sinh vật gây bệnh, đặc biệt là Salmonella.
– Chỉ dùng thuốc sát trùng sau khi đã làm sạch bề mặt.
– Phải để khô hoàn toàn vì vi sinh vật gây bệnh không thể sống trong môi trường khô.

2. Quy trình vệ sinh, sát trùng:
a) Bước 1:
– Làm sạch chất hữu cơ trước khi rửa:
Hầu hết các thuốc sát trùng không có tác dụng diệt khuẩn nếu dụng cụ được sát trùng không sạch sẽ. Đất, rơm, trấu, sữa, máu, phân gây bất hoạt thuốc sát trùng. Trước khi rửa bằng nước cần dùng chổi, xẻng hoặc các dụng cụ thích hợp làm sạch các chất hữu cơ bám trên nền chuồng, tường chuồng, trên bề mặt các dụng cụ chăn nuôi…
b) Bước 2
– Rửa sạch bằng nước:
Sau khi vệ sinh cơ học các chất hữu cơ tiến hành rửa sạch bằng nước. Đối với dụng cụ, sàn, vách ngăn… bị chất bẩn bám chặt bề mặt lâu ngày, cần ngâm nước 1 – 3 ngày trước khi rửa. Đối với một số chỗ khó rửa (các góc, khe…), phải dùng vòi xịt áp suất cao bằng hơi.
c) Bước 3
– Tẩy bằng xà phòng, nước vôi hoặc thuốc tẩy:
Dùng nước xà phòng, nước vôi 30% hoặc thuốc tẩy rửa để phun, dội rửa lên nền hoặc ngâm các dụng cụ chăn nuôi.
d) Bước 4
– Sát trùng bằng thuốc sát trùng:
Dùng thuốc sát trùng với liều lượng phù hợp. Cần kiểm tra pH nguồn nước trước khi pha loãng. Không được dùng nước cứng để pha thuốc sát trùng vì sẽ làm giảm hoặc làm mất tác dụng của thuốc sát trùng. Dùng nước có nhiệt độ phù hợp để pha loãng thuốc.
Lưu ý thời hạn dùng thuốc và thời hạn dùng dung dịch thuốc sát trùng đã pha loãng. Cần đảm bảo đủ thời gian cho thuốc tiếp xúc với dụng cụ được sát trùng theo hướng dẫn của nhà sản xuất.
Khi phun thuốc sát trùng, phải mặc quần áo bảo hộ lao động.
e) Bước 5
– Để khô:
Sau khi khử trùng bằng thuốc, cần phải để khô dụng cụ và trang thiết bị. Với chuồng nuôi, thời gian để khô trước khi thả gia súc, gia cầm vào là 1 – 2 ngày, không được để khô dưới 12 giờ.
*  Việc định kỳ vệ sinh tiêu độc sát trùng cho cơ sở chăn nuôi là một biện pháp chủ động để loại trừ mầm bệnh giúp cho người nuôi phòng ngừa được các dịch bệnh nguy hiểm. Thế nhưng, nếu việc thực hiện không đúng cách như không làm vệ sinh trước khi phun thuốc, chọn loại thuốc hoặc sử dụng liều lượng, cách pha, cách phun xịt không phù hợp với đối tượng tiêu độc… sẽ gây lãng phí công sức, tiền của mà dịch bệnh vẫn xảy ra. Bài viết sau đây nhằm chia sẻ với bà con chăn nuôi các biện pháp để vệ sinh tiêu độc đạt được hiệu quả cao nhất.
Trong chăn nuôi khi có dịch bệnh xảy ra, con vật bệnh sẽ bài thải các mầm bệnh và thường phát tán trong không khí vào môi trường xung quanh. Một số mầm bệnh như cúm gia cầm, lở mồm long móng, tai xanh… vi rút có thể tán phát xa hơn 3 km. Những mầm bệnh này bám vào môi trường chuồng trại xung quanh và khi có điều kiện thì xâm nhập và gây bệnh cho thú nuôi. Việc định kỳ vệ sinh tiêu độc sát trùng chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi là một biện pháp chủ động để loại trừ mầm bệnh giúp cho người nuôi phòng ngừa được các dịch bệnh nguy hiểm này.
Muốn tiêu độc sát trùng có hiệu quả, cần áp dụng đúng qui trình kỹ thuật và lựa chọn thuốc sát trùng phù hợp. Khi thực hiện cần chú ý các yếu tố sau:
II)   Đối tượng tiêu độc sát trùng:
– Chuồng trại: nền chuồng, trần, vách, khoảng không khí trong chuồng
nuôi và xung quanh khu vực trại.
– Dụng cụ chăn nuôi: máng ăn, máng uống, các loại dụng cụ khác dùng trong chăn nuôi.
– Các vật dụng, phương tiện vận chuyển ra vào trại.
III)  Thời gian thực hiện tiêu độc sát trùng:
– Khi không có dịch bệnh: định kỳ hàng tuần hoặc hàng tháng tiến hành phun thuốc một lần.
– Khi có dịch bệnh: thực hiện tiêu độc một tuần 2 lần, liên tục cho đến khi hết dịch.
– Sau mỗi khi xuất bán phải vệ sinh, sát trùng tiêu độc và để trống chuồng trong thời gian tối thiểu là 7 ngày trước khi nuôi mới.
IV)   Lựa chọn thuốc sát trùng:
– Chọn sử dụng một trong các loại thuốc sát trùng như: Lavecide, Benkocid,  Chloramin…
– Các thuốc này đều có tính sát trùng nhanh, mạnh, kéo dài, hoạt phổ rộng, tiêu diệt được hầu hết các loại mầm bệnh, kể cả nấm, bào tử, vi rút, và một số nguyên sinh động vật.
– Có thể phun xịt chuồng trại đang có thú nhưng tránh phun trực tiếp  lên mình thú.
– Liều lượng sử dụng theo hướng dẫn của nhà sản xuất.
V)    Các bước thực hiện tiêu độc sát trùng:
1) Bước 1.
a) Làm sạch cơ học:
– Bước này rất quan trọng có thể giúp loại trừ đến 80% mầm bệnh.
– Phun nước chuồng trại trước khi dọn rửa để tránh bụi (có thể mang mầm bệnh) bốc lên. Bước này giúp cho việc dọn phân, nước tiểu và các chất hữu cơ sinh học khác được dễ dàng hơn.
– Đối với một số mầm bệnh nguy hiểm có khả năng lây giữa người và thú… áp dụng biện pháp phun thuốc sát trùng trực tiếp lên chất độn chuồng, phân trước khi quét dọn.
– Quét dọn thu gom lại tất cả các chất bẩn hữu cơ như: phân, chất lót chuồng, thức ăn để đốt hoặc chôn.
– Dùng bàn chải và vòi phun nước để xịt nước rửa sạch nền, vách, không để các vũng nước đọng trên bề mặt được sát trùng.
– Tất cả các vật dụng, phương tiện trước khi sát trùng phải được làm sạch cơ giới.
– Sau khoảng 1-2 giờ khi bề mặt đã ráo nước, tiến hành phun thuốc cho đều, chú ý các hố, hốc.
2 )Bước 2.
a)  Sát trùng:
Đối với chuồng nuôi đang có vật nuôi:
– Pha thuốc sát trùng trong bình, nén khí, phun dưới dạng khí dung lên toàn bộ trần, vách, tường, không khí, chuồng nuôi để sát trùng.
– Đối với sát trùng không khí chuồng nuôi, lượng dùng 1.2 – 1.5 lít dung dịch cho 100 m3 thể tích không khí chuồng nuôi (thể tích chuồng nuôi = dài chuồng x rộng x cao trần).
Đối với chuồng trống, đất xung quanh khu chăn nuôi, phương tiện vận chuyển:
– Phun thuốc sát trùng lên toàn bộ bề mặt nền, tường, máng ăn, máng uống, trần, mái chuồng nuôi.
– Thuốc sát trùng được phun bảo đảm ướt toàn bộ bề mặt vật được sát trùng và phun theo chiều từ cao xuống thấp.
Đối với phân, rác, chất độn chuồng:
Thu gom toàn bộ phân, rác,chất độn chuồng, thức ăn thừa… đem chôn hoặc đốt. Khi chôn phải rắc vôi, hoặc chloramin, chôn cách mặt đất ít nhất 0.5 – 1 mét.
Đối với nước uống, bể chứa nước:
– Tháo hoặc đổ bỏ toàn bộ nước cũ chứa trong bể.
– Dùng bàn chải cọ rửa sạch bề mặt bên trong bể, rửa lại bằng nước sạch.
– Để khô phun thuốc sát trùng chloramin B với nồng độ 2 – 3% toàn bộ thành bể.
– Sau đó ít nhất 30 – 60 phút, rửa lại bằng nước sạch và bơm nước mới vào bể.
Lưu ý: Bất kỳ một loại thuốc sát trùng nào cũng đều có tính độc ít hay nhiều tùy loại đối với người và vật nuôi. Do đó, khi phun xịt, người nuôi nên mặc đồ bảo hộ, đeo khẩu trang và tuyệt đối không phun xịt lên trên mình con vật nuôi./.

QUY TRÌNH CHĂN NUÔI GÀ THẢ VƯỜN

Chương I: Chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật của gà thả vườn 1. Đối với gà thả vườn nuôi thịt theo phương thức nhốt thả – Diện tích chuồng nuôi: Gà từ 1 – 30 ngày tuổi : 25 con/m2 Gà từ 30 – 60 ngày tuổi : 10 con/m2 – Tỷ lệ nuôi sống : 95%
Chương I: Chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật của gà thả vườn

1. Đối với gà thả vườn nuôi thịt theo phương thức nhốt thả

– Diện tích chuồng nuôi:

Gà từ 1 – 30 ngày tuổi : 25 con/m2

Gà từ 30 – 60 ngày tuổi : 10 con/m2

– Tỷ lệ nuôi sống : 95%

– Máng ăn:

Khay ăn 1 tuần đầu : 50 – 80 con/khay (50x60x2cm)

Máng ăn những tuần tiếp : máng ăn tròn 50 con/máng

– Máng uống : 1 – 2 tuần đầu dùng loại 1 lít, những tuần tiếp theo dùng máng 3,8 – 4 lít/25 con gà

– Điện chiếu sáng : 3w/m2; chiếu sáng: trong 20 ngày đầu.

– Điện sưởi ấm giai đoạn úm gà con, tuỳ thời tiết, 2 – 3 tuần đầu dùng bóng điện 75 –100 W .

– Thuốc và thức ăn bổ sung:

+ Thuốc phòng bệnh chính cho gà: Gumboro – Lasota – Đậu gà – Niucatxơn H1 (1.000đ/con)

+ Đường Gluco: 0,5kg/100 con gà (15.000 đ/kg)

+ Strees Brand: 1 gói/ 100 con gà (8.000 đ/gói)

+ Kháng sinh dự phòng: 100 đ/con

– Tiêu tốn thức ăn/1kg tăng trọng: 2,8 – 3 kg thức ăn

– Thời gian xuất chuồng là 60 – 90 ngày tuổi

– Trọng lượng xuất chuồng: 1,5 – 2kg.

2. Đối với gà đẻ thả vuờn theo phương thức nhốt thả – Trong 1 tháng đầu tiên tất cả các định mức như nuôi gà thịt.

– Định mức thức ăn để có 1 gà mái thả vườn đẻ được lúc 21 – 22 tuần tuổi là 10kg/con

– Chỉ tiêu 1,7 – 1,9 kg thức ăn cho 10 quả trứng.

– 5- 10 con có 1 ổ đẻ (30x30x30 cm).

– Sào đậu cách nhau 30 – 40 cm.

– Đệm chuồng 1 tháng thay 1 lần, lớp độn dày 12 –15 cm bằng rơm rạ cắt ngắn,

– Có bể cát cho gà tắm trong vườn

– Có máng sỏi (cát to) cho gà ăn

Chu kỳ kinh tế 2 – 3 năm là loại thải.

Chương II Một số giống gà thả vườn

A – Giống gà địa phương

1. Giống gà Ri Nghệ An

Đặc điểm giống:

– Màu lông đa dạng.

– Con trống trưởng thành nặng 2 – 2.5 kg.

– Con mái trưởng thành nặng 1,3 – 2 kg. Đẻ trung bình 97 quả/năm, trọng lượng 42 g/quả.

Ưu điểm: Dễ nuôi, chịu khó tìm kiếm mồi, ít dịch bệnh. Đẻ sớm (6 tháng tuổi đã bắt đầu đẻ), nuôi con khéo.

Nhược điểm : Năng suất trứng, thịt thấp

2. Giống gà chọi và gà cồ

Đặc điểm giống:

– Trống trưởng thành nặng 2,5 – 3,5 kg.

– Mái trưởng thành nặng 2 – 3 kg. Đẻ trung bình 60 – 80quả/năm, gà mái 7-8 tháng tuổi bắt đầu đẻ.

Ưu điểm: Tính thích nghi tốt, chóng lớn, khả năng chống bệnh cao.

Nhược điểm: Năng suất trứng thấp, nuôi con vụng.

B – Các giống gà được lai tạo hoặc nhập nội

1. Gà rốt ri

Cơ quan tạo giống: Viện chăn nuôi Hà Nội

Đặc điểm giống:

– Màu sắc: màu nâu là chính

– Con trống trưởng thành: 2,4 kg

– Con mái trưởng thành: 1,7 kg

– Gà mái 6 tháng tuổi bắt đầu đẻ.

– Sản lượng trứng 130 quả/mái/năm.

– Trọng lượng trứng: 45 – 50g

ưu điểm: Gà khoẻ, chóng lớn hơn hẳn so với gà ri, chống chịu bệnh tật khá.

Nhược điểm : Độ thuần chưa cao.

2. Giống gà BT1

Cơ quan tạo giống: Trung tâm Nghiên cứu và phát triển Chăn nuôi Bình Thắng (BT) Viện Khoa học nông nghiệp miền Nam.

Đặc điểm giồng:

– Lông màu nâu nhạt đến nâu đậm.

– Con trống 1 năm tuổi: 3,2 – 3,6 kg.

– Con mái 1 năm tuổi: 2,0 – 2,2 kg.

– Con mái 5 tháng tuổi bắt đầu đẻ, gà đẻ liên tục không biết ấp.

– Sản lượng trứng: 160 – 200 quả/mái/năm.

– Trọng lượng trứng bình quân: 54 – 55 quả.

3. Gà Tam hoàng

Xuất xứ: Gà được nhập vào tỉnh Nghệ An năm 1994. Gà có nguồn gốc từ tỉnh Quảng Đông – Trung Quốc.

Đặc điểm giống.:

– Gà có lông, mỏ và chân màu vàng nên gọi là gà Tam hoàng.

– Trống trưởng thành từ 2,5 – 4 kg

– Mái trưởng thành từ 2 – 2.5 kg.

– Gà đẻ khi 5 tháng tuổi. Sản lượng trứng 150 quả/mái/năm. Tính chống chịu bệnh tật khá, thịt thơm ngon thích hợp thị hiếu. Ngoài ra còn có giống Lương phượng, Kabir, giống Sasso cũng nuôi thả vườn.

Chương III: Kỹ thuật úm gà con

– Có thể úm gà con bằng lồng, hộp giấy hoặc trên nền chuồng.

– Kích thước 1m x 2m cho 100 gà con.

– úm trên nền cần lót nền bằng trấu, dăm bào máy dày 5 – 10 cm tuỳ mùa. Mỗi quây úm tối đa là 250 con. Chu vi quây úm là 4 – 4,5 m.

– Nhiệt độ trong quây úm gà con:

+ Tuần thứ nhất từ 32 – 350 C

+ Tuần thứ 2 từ 27 – 300 C

+ Tuần thứ 3 từ 22 – 250 C

Tuỳ nhiệt độ ngoài trời từng mùa để điều chỉnh nhất là về ban đêm.

– Nếu úm bằng bóng điện cần quan sát mật độ gà ở trong quây:

+ Bóng điện treo chính giữa quây độ cao 0.3 – 0.4 m.

+ H1 – Nhiệt độ thích hợp gà phân bổ đều.

+ H2 – Nhiệt độ thấp gà chụm lại gần bóng đèn điện.

+ H3 – Nhiệt độ quá nóng gà tản ra xa.

+ H4 – Có chỗ gió lùa vào quây mà ta không biết.

Sau khi nuôi 3 tuần tuổi ta đưa gà thả vườn.

Chương IV: Chăm sóc và nuôi dưỡng

Trước khi đưa gà thả vào quây cần bật điện sáng sưởi ấm trước 1 giờ. Sau khi thả gà vào cho gà uồng các loại thuốc bổ như sau: vitamin tổng hợp, vitamin C, đường Glucoza. Sau 3 giờ bắt đầu cho ăn.

– Gà từ 1 – 30 ngày tuổi cho ăn mỗi ngày 20 – 50g/con/ngày.

– Thức ăn thích hợp là cám 310 hygro. Hoặc thức ăn đậm đặc để pha trộn thêm của các hãng Hygro, Proconco.

– Tỷ lệ pha trộn theo chỉ dẫn cho từng loại cám.

– Gà từ 6 – 9 tuần tuổi cho ăn thêm 60 – 100g/con/ngày.

Chú ý: 2 ngày đầu có thể phòng kháng sinh liều nhẹ như: Neotesol, Colitetravet hoặc Synavina (Theo liều phòng chỉ dẫn).

– Định kỳ hàng tuần dùng kháng sinh. Pha 1g Tetracilin/1 lít nước cho gà uống trong 1 ngày (đầu tuần), phòng bệnh tụ huyết trùng. Tuỳ lượng gà nhiều hay ít mà pha nước thuốc trong ngày.

– Cần có máng cát cho gà thả vườn.

– Nước uống đầy đủ, thường xuyên và sạch sẽ.

– Máng nước uống đầy đủ, thường xuyên và sạch sẽ. Vệ sinh thường xuyên, lau rửa máng uống 2 lần / ngày.

– 1 tuần đầu ăn bằng khay nhôm, kích thước dài x rộng x cao (60cm x 50cm x 2cm) hoặc bằng nia mẹt 50 con/khay.

– Tuần thứ 2 trở đi dùng máng ăn tự động, độ cao miệng máng bằng độ cao của lưng gà. Máng buộc trên 1 dây phơi linh động.

– Không để ướt nệm chuồng. Chỗ nào dột ướt hoặc uống nước làm ướt phải bốc ra phơi thay đệm lót khác.

NGUYÊN TẮC, QUY TRÌNH VỆ SINH, SÁT TRÙNG CHUỒNG TRẠI VÀ DỤNG CỤ CHĂN NUÔI

Trong những năm gần đây, ở nước ta tình hình dịch bệnh gia súc, gia cầm diễn biến hết sức phức tạp, gây tổn thất rất lớn cho ngành chăn nuôi. Chăn nuôi an toàn sinh học rất quan trọng và bức thiết vì giúp khống chế dịch bệnh, tăng năng suất và hiệu quả chăn nuôi, làm cho chăn nuôi phát triển bền vững; chăn nuôi an toàn sinh học tạo ra sản phẩm chất lượng, vệ sinh đồng thời giúp bảo vệ sức khỏe cộng đồng và bảo vệ môi trường.
“Chăn nuôi an toàn sinh học” là việc áp dụng đồng bộ các biện pháp nhằm ngăn ngừa sự tiếp xúc của vật nuôi với các mầm bệnh. Các mầm bệnh (các vi sinh vật gây bệnh) có rất nhiều trong môi trường. Chúng sống và phát triển mạnh trong những điều kiện nhất định về nhiệt độ và ẩm độ. Chúng cũng dễ dàng bị tiêu diệt khi gặp điều kiện bất lợi. Vì vậy, để hạn chế sự phát triển của mầm bệnh, đảm bảo “chăn nuôi an toàn” cần xây dựng chương trình vệ sinh, sát trùng chuồng nuôi và các dụng cụ chăn nuôi. Chương trình vệ sinh, sát trùng cần phải bao gồm tất cả các khu vực trong, ngoài chuồng nuôi kể cả khu vực bảo quản thức ăn và tất cả các dụng cụ chăn nuôi. Tần suất áp dụng tùy thuộc vào quy trình và phương thức chăn nuôi. Cần có sổ sách theo dõi ghi chép chương trình vệ sinh, sát trùng (thời gian, loại thuốc, nồng độ pha…).

1. Nguyên tắc vệ sinh, sát trùng:

– Phải luôn luôn làm sạch tất cả phân và các chất bẩn. Khi có phân là có vi sinh vật gây bệnh, đặc biệt là Salmonella.
– Chỉ dùng thuốc sát trùng sau khi đã làm sạch bề mặt.
– Phải để khô hoàn toàn vì vi sinh vật gây bệnh không thể sống trong môi trường khô.

2. Quy trình vệ sinh, sát trùng:

Bước 1 – Làm sạch chất hữu cơ trước khi rửa:
Hầu hết các thuốc sát trùng không có tác dụng diệt khuẩn nếu dụng cụ được sát trùng không sạch sẽ. Đất, rơm, trấu, sữa, máu, phân gây bất hoạt thuốc sát trùng. Trước khi rửa bằng nước cần dùng chổi, xẻng hoặc các dụng cụ thích hợp làm sạch các chất hữu cơ bám trên nền chuồng, tường chuồng, trên bề mặt các dụng cụ chăn nuôi…
Bước 2 – Rửa sạch bằng nước:
Sau khi vệ sinh cơ học các chất hữu cơ tiến hành rửa sạch bằng nước. Đối với dụng cụ, sàn, vách ngăn… bị chất bẩn bám chặt bề mặt lâu ngày, cần ngâm nước 1 – 3 ngày trước khi rửa. Đối với một số chỗ khó rửa (các góc, khe…), phải dùng vòi xịt áp suất cao bằng hơi.
Bước 3 – Tẩy bằng xà phòng, nước vôi hoặc thuốc tẩy:
Dùng nước xà phòng, nước vôi 30% hoặc thuốc tẩy rửa để phun, dội rửa lên nền hoặc ngâm các dụng cụ chăn nuôi.
Bước 4 – Sát trùng bằng thuốc sát trùng:
Dùng thuốc sát trùng với liều lượng phù hợp. Cần kiểm tra pH nguồn nước trước khi pha loãng. Không được dùng nước cứng để pha thuốc sát trùng vì sẽ làm giảm hoặc làm mất tác dụng của thuốc sát trùng. Dùng nước có nhiệt độ phù hợp để pha loãng thuốc.
Lưu ý thời hạn dùng thuốc và thời hạn dùng dung dịch thuốc sát trùng đã pha loãng. Cần đảm bảo đủ thời gian cho thuốc tiếp xúc với dụng cụ được sát trùng theo hướng dẫn của nhà sản xuất.
Khi phun thuốc sát trùng, phải mặc quần áo bảo hộ lao động.
Bước 5 – Để khô:
Sau khi khử trùng bằng thuốc, cần phải để khô dụng cụ và trang thiết bị. Với chuồng nuôi, thời gian để khô trước khi thả gia súc, gia cầm vào là 1 – 2 ngày, không được để khô dưới 12 giờ.

MỘT SỐ BỆNH THƯỜNG GẶP Ở GÀ

1. Bệnh ngộ độc do mặn, hoá chất, nhấm mốc aflatoxin:
a)  Dấu hiệu:
–  Ngộ độc muối làm gà uống nước nhiều, tích nước dưới da, bại liệt, có thể sưng khớp. Ngộ độc hoá chất, gà cũng uống nước nhiều, có khi chưa kịp có triệu chứng đã chết, mổ ra có mùi hoá chất bị nhiễm trước hết là ở diều, mề, lâu hơn có thể thấm vào thịt. Cả đàn gà cùng ăn uống một loại thức ăn đều biểu hiện bệnh, con nào ăn khoẻ còn bị ngộ độc nhanh hơn.
–  Gà bị ngộ độc do  ăn ngô mốc có đầu đen ở hạt, khô lạc mốc, hay thức ăn vón mốc . . . là bị ngộ độc mà nguy hại nhất là độc tố aflatoxin làm gà kém ăn, lông xù, giảm đẻ rõ rệt, trứng ấp nở kém. Ngộ độc nặng gây chết gà rất nhanh. Gan sưng có chấm xuất huyết, màu xám hoặc vàng đất thó, thận gà ốm sưng và xuất huyết.
b) Cách phòng ngộ độc
–  Phòng ngộ độc bằng cách theo dõi đàn gà thường ngày, thấy hiện tượng khác thường là phải xem xét ngay nước uống, thức ăn. Thức ăn mặn phải cho thêm ngô, cám; thức ăn mốc, có hoá chất phải loại bỏ. Nếu nước bẩn, nhiều con, nước giếng khơi, nước ao v… là phải thay, phải lọc sát trùng. Tuyệt đối không để thức ăn, nước uống cạnh thuốc sâu, thuốc chuột v.v…
2. Bệnh mổ cắn (canibalizm) là thói quen có hại của gà:
a)  Dấu hiệu: Mổ cắn có 4 dạng sau
–  Mố cắn hậu môn (ven picking): Gà đẻ nhiều quá làm dãn dạ con hoặc gà mới vào đẻ, trứng hơi to cũng làm cho lòi dom. Khi niêm mạc dạ con lòi ra, màu hồng kích thích gà khác mổ cắn vào làm chảy máu, màu đỏ càng quyến rũ gà xúm lại mổ làm cho lòi cả ruột rồi chết.

–   Mổ cắn đứt lông (Feather pulling): ở gà nuôi nhốt không được vận động, dinh dưỡng và khoáng không đủ gây nên hiện tượng gà mổ lông nhau, quanh ống chân lông bị mổ có sắc tố tập trung tạo hình màu nâu sẫm.
–  Mổ cắn ngón chân (Toe picking) : Thường xảy ra với gà con trước hết do bị đói vì thành máng cao, để xa, thiếu máng, con bé yếu bị con to chèn. Khi không tìm được thức ăn, gà sẽ mổ chân mình hoặc chân con khác.
–   Mổ cắn trên đầu (Head picking): Khi ở mào, tích có vết thương là bị gà khác mổ cắn tiếp. Gà nuôi nhốt lồng hay mổ cắn tích, mào, đầu. Gà đã cắt mỏ, nhốt ở lồng khác vẫn nhoài đầu ra ngoài với tới mổ cắn gà nhốt bên cạnh.
b)  Nguyên nhân:
-Một tập hợp khá nhiều nguyên nhân gây ra bệnh mổ cắn: ăn thức ăn viên; Lượng ngô quá nhiều trong thức ăn; Thiếu máng ăn, máng uống; Gà nhịn đói lâu; Thiếu ổ đẻ và ổ đẻ đặt nơi quá sáng; Nhốt chật quá; Thức ăn thiếu chất dinh dưỡng và thiếu khoáng; Bị kích thích do ngoại ký sinh trùng: mạt, rận… Khi đã có một số con mổ cắn nhau, đàn gà tiếp tục thói quen đó không cần có sự kích thích nào khác.
c)  Cách khắc phục
–  Khắc phục bệnh mổ cắn bằng các biện pháp: Thức ăn chất lượng tốt; Cho ăn đủ không để gà đói lâu (kể cả phương thức thả và cho ăn thêm) ; Cho ăn thêm rau đối với gà nhốt và gà thả; Đủ máng ăn uống; Không nhốt quá chật; Đảm bảo chuồng thông thoáng, tránh ánh sáng mạnh quá, gây kích thích cho gà; Nuôi đàn đông cần cắt mỏ.
Khi gà bị vết thương do mổ cắn lấy thuốc xanh Methylen bôi vào, không bôi thuốc đỏ vì màu đỏ kích thích làm gà tiếp tục mổ cắn.

– Ngoài ra cần áp dụng biện pháp cắt mỏ cho gà trong từng giai đoạn

Biện pháp cắt mỏ gà được nhiều trại chăn nuôi gà tập trung áp dụng cho kết quả rất tốt: Tránh được hiện tượng cắn mổ, ăn lông, ăn thịt lẫn nhau; giảm tỷ lệ hao hụt thức ăn do rơi vãi khi gà mổ thức ăn đến 4-5%; gà lớn nhanh, khoẻ mạnh. Kỹ thuật cắt mỏ gà phải đảm bảo cho mỏ chậm mọc lại, cắt đúng chỗ, không ảnh hưởng đến ăn uống, đến năng suất. Kỹ thuật cắt mỏ được tiến hành như sau:
– Dụng cụ cắt mỏ: Có thể cắt thủ công bằng cách dùng dao sắc, kê mỏ gà lên tấm ván rồi cắt. Các trang trại chăn nuôi lớn nên trang bị bằng máy cắt mỏ bằng điện vừa cắt, vừa đốt cho nóng (dao đốt trên bếp dầu, bếp than) để hàn mép sừng của mỏ cho máu không chảy, cắt lần lượt từng con, cắt bằng máy thì nhanh.
– Trước khi cắt mỏ nên cho gà nhịn đói 4 giờ, cho uống đủ nước pha Vitamin K để chống chảy máu.
– Với gà con cắt vào thời gian từ 7-10 ngày tuổi, cắt cả mỏ trên và mỏ dưới, đưa lưỡi dao cắt cùng một lúc, vết cắt cách lỗ mũi khoảng 2mm.
– Với gà hậu bị cắt lúc 7 -8 tuần tuổi hoặc 12-16 tuần tuổi. Cắt cả 2 mỏ, vết cắt vuông góc với trục mỏ, mỏ trên cách lỗ mũi 6mm, mỏ dưới xa hơn mỏ trên 3mm, tạo cho mỏ dưới dài hơn mỏ trên. Cũng có thể xác định vị trí cắt mỏ trên là điểm giữa bờ lỗ mũi và chóp mỏ, còn mỏ dưới vẫn cắt dài hơn mỏ trên 3mm.
– Cắt mỏ xong, tiếp tục cho gà uống nước pha Vitamin K, có thêm 1g Tetracyline /lít trong 4-6 ngày. Cho gà ăn theo chế độ tự do (gà hậu bị) trong 1 tuần, thức ăn đổ dày để mỏ gà không chạm vào đáy và thành máng, thức ăn bột còn dính vào mỏ làm giảm chảy máu. Theo dõi để xử lý kịp thời nếu gà bị chảy máu nhiều, tránh dồn bắt làm xáo động đàn trong vài tuần đầu sau cắt mỏ.
3. Bệnh cầu trùng (Coccidiosis avium):
Là bệnh phổ biến gây thiệt hại cho các đàn gà không nhỏ vì khí hậu nước ta nóng ẩm là điều kiện cho loại cầu trùng phát triển. Đối với gà thả vườn môi trường tiếp xúc rộng càng dễ nhiễm bệnh này.
Bệnh do ký sinh trùng đơn bào thuộc Genus eimeria gây nên làm tổn thương những lớp tế bào niêm mạc ruột. Loại ký sinh trùng này thường sống và phát triển trong tế bào ruột gây phá huỷ tế bào ấy. Hậu quả là gây viêm ruột từ trạng thái nhẹ kiểu viêm ca ta, hay còn gọi là viêm xuất dịch tới viêm xuất huyết làm niêm mạc, hạ niêm mạc và cả những lớp cơ ruột bị thương. ở các thể bệnh, phân gà thường lẫn máu.
a)  Dấu hiệu bệnh cầu trùng thường gặp: các loại cầu trùng quan trọng thường gặp
– Cầu trùng ở manh tràng gà do Eimeria tenella trên niêm mạc manh tràng gây viêm xuất huyết cấp tính. Gà bệnh suy kiệt nhanh, phân có máu kèm dịch nhầy, thường xảy ra ở gà 3-4 tuần tuổi. Gà xù lông, có biểu hiện thiếu máu, chết đến 20-30% hoặc ‘hơn. Niêm mạc manh tràng tổn thương nặng, xuất huyết lấm tấm thành từng đám. Có các đám mũ, bã đậu kèm máu.
–  Cầu trùng ruột non cấp tính do Eimeria necatrix là loài gây bệnh nhiều nhất trong các loài ký sinh trùng ở ruột non, gây ra cấp tính nặng, thường xảy ra ở gà 6-8 tuần tuổi. Bị bệnh cầu trùng ruột non, gà bỏ ăn, xù lông, ỉa chảy ra nhiều nước lẫn lượng lớn dịch muội và dịch hoại tử, có lẫn máu nhưng không nhiều như cầu trùng manh tràng. Bệnh cầu trùng ruột non lây lan chậm, thời gian nung bệnh dài hơn do gà thải ra ít noãn nang yếu. Ruột dày lên, có xuất huyết ở nhiều trường hời), thành ruột có màu đỏ sẫm, dễ vỡ có dịch lẫn máu tràn ra.
–   Cầu trùng mãn tính do các loại cầu trùng ký sinh ở gà như Eimeria maxima, Eimeria mivati,… quan trọng nhất là Eimeria acervulina, có thể do 2 loài Eimeria tenella (cầu trùng manh tràng) và Eimeria necatrix (cầu trùng ruột nong Gà ốm ăn ít, chậm lớn, bệnh xuất hiện từ từ, ỉa lỏng nhiều, gà gầy, đẻ giảm, chất lượng trứng kém, niêm mạc ruột viêm, có những vệt xuất huyết.
b)  Biện pháp phòng trị:
–  Vệ sinh chuồng trại sạch sẽ, khô ráo, tuyệt đối không để ẩm ướt. Định kỳ quét vôi, phun formol 2% hay crezyl 3% sát trùng chuồng trại, thiết bị, dụng cụ chăn nuôi. Sau mỗi đợt nuôi gà để’chuồng trống một thời gian. Tổng vệ sinh toàn bộ bên trong và khu vực bên ngoài chuồng, phun thuốc sát trùng, đệm lót ủ phân rắc vôi bột, hoặc tốt hơn là đốt chất độn cũ. Nền chuồng phải sát trùng kỹ bằng dung dịch xút 2% đun nóng (nếu có điều kiện) hoặc đốt chém lửa kỹ. Trong từng ô chuồng nên nuôi một loại gà cùng lứa. Mật độ chuồng nuôi không chật hẹp quá. Chú ý diệt chuột, cách ly người ra vào khu chăn nuôi.
c)  Cách khắc phục
–  Trị bệnh bằng các loại thuốc: EsB3 Coccistop-2000, Rigecoccin, Furazolidon, Avicoc, Stenorol theo hướng dẫn của nơi sản xuất. Với thuốc Furazolidon, Rigecoccin liều trộn vào thức ăn 35-40 g/tạ, hoặc trộn với cơm viên lại đút cho gà ăn ở gia đình cho đến lúc khỏi bệnh.
4. Bệnh Niu-cát-xơn (Newcastle)
Còn gọi là bệnh Tân thành gà, bệnh gà rù là bệnh truyền nhiễm lây lan rất nhanh. Bệnh do siêu vi trùng (virus) Paramixovirus gây ra (virus chỉ có 1 serotype), tồn tại trong chuồng 13-30 ngày. . .
a)  Dấu hiệu bệnh
Gà khoẻ bị lây bệnh từ gà ốm qua đường hô hấp thở không khí), đường tiêu hoá (ăn thức ăn, nước uống nhiễm virus), còn lây qua dụng cụ, người chăn nuôi, gia súc, gia cầm khác bị nhiễm virus.
Thời gian ủ bệnh từ 2-14 ngày. Gà bệnh thường biểu hiện ở 3 thể hoặc 1-2 trong 3 thể triệu chứng hô hấp, tiêu hoá, thần kinh: ủ rũ, kém ăn, ho, hắt hơi chảy nước mũi, thở khò khè đứt quãng, thở khó. Gà ỉa chảy, phân có nước loãng trắng như vôi “cút cò”, cơ run, liệt co giật từng lúc, bước đi không phối hợp giữa đầu và cổ, có con đầu ngoẹo ra sau (torticolis), thân lệch sang bên, cuối đợt dịch những gà sống sót vẫn còn di chứng vẹo đầu, chạy vòng quanh. Tất cả các loại gà đều có thể nhiễm bệnh. Trường hợp nặng bệnh làm chết đến 100% gà.
Gà ốm chết mổ ra thấy xuất huyết có đọng dịch nhầy đục, có khi lẫn máu ở xoang mũi, khí quản, phổi. Dạ dày tuyến (mề tuyến) xuất huyết ở các ống tiết dịch làm thành vệt. ở niêm mạc ruột, van hồi manh tràng bị xuất huyết có gờ nổi lên. Trực tràng, hậu môn ướt đều xuất huyết. Các bộ phận khác cũng bị xuất huyết: Tim, mỡ, màng treo ống dẫn trứng, buồng trứng… ở gà đẻ bị bệnh, trứng non rụng ra khoang bụng, vỡ ra làm viêm phúc mạc – gà có thể không sống được.

b) Phòng bệnh:
–  Bệnh Newcatsle đến nay không có thuốc trị, mà chỉ có phòng trong đó vệ sinh thú y và tiêm phòng vacxin đầy đủ có thể đảm bảo an toàn dịch bệnh.
Cụ thể: Cách ly tốt đàn gà, trại gà; Thực hiện tốt quy trình nuôi dưỡng, vệ sinh chuồng gà và trại; Tiêm phòng kịp thời và đầy đủ theo lịch hướng dẫn cho đàn gà nuôi để đẻ (xem bảng).
Bảng 23 : Lịch dùng vacxin Newcastle cho gà
7-10 ngày     Nhỏ lasota lần 1
21-25 ngày     Nhỏ lasota lần 2
40-60 ngày     Tiêm vacxin newcastle hệ 1 lần 2
133 ngày     Tiêm vacxin newcastle hệ 1 lần 3
308 ngày     Tiêm vacxin newcastle hệ 1 lần 4
Sau đó có điều kiện thì cứ 3 tháng kiểm tra hàm lượng kháng thể 1 lần, nếu độ miễn dịch thấp thì tiêm phòng bổ sung tiếp Newcastle hệ I.
c) Biện pháp xử lý khi có dịch : Khi có dịch Newcastle xảy ra cần thực hiện các biện pháp sau:
– Bao vây ổ dịch không cho lây lan: Cách ly khu có dịch với các khu khác, có người nuôi dưỡng riêng. Nghiêm cấm sự tiếp xúc của người, súc vật từ nơi khác đến, tức là “nội bất xuất ngoại bất nhập”.
– Chọn loại triệt để gà bệnh, nghi bệnh. Xử lý gà loại, gà chết theo chỉ đạo hướng dẫn của cán bộ thú y. Lông, lòng, vật phẩm và gà ốm phải chôn sâu, rắc vôi bột phủ từng lớp.
– Tiêm phòng cho gà khoẻ: Nhỏ Lasota cho gà con dưới 1 tháng, gà trên 30 ngày tiêm vacxin Newcastle hệ I. Sau 1 tuần tiêm vacxin mà gà không chết là đã có thể yên tâm.
– Tăng cường, chăm sóc nuôi dưỡng đàn gà bằng thức ăn chất lượng tốt, tổng vệ sinh chuồng trại, thiết bị dụng cụ chăn nuôi.
– Để đề phòng bệnh khác thứ phát xâm nhập, cần cho liều kháng sinh nhẹ và bổ sung vitamin (ăn thêm rau xanh non) trong 7- 1 0 ngày .
– Nếu thấy diều căng do độ axit cao, uống nước nhiều thì có thể cho gà uống nước vôi trong.
Chăn nuôi gà thả ở gia đình khi thấy có gà lù rù là phải nhốt cách ly ngay và thực hiện các biện pháp phòng bệnh.
5. Bệnh đậu gà bánh trái gà – (Fowl pox)
Là bệnh truyền nhiễm cấp tính chung cho gia cầm ở mọi lứa tuổi, có triệu chứng đặc trưng là những mụn viêm tấy ở da và những nơi không có lông, hay có những mụn màng giả ở niêm mạc họng; mắt. Bệnh do một loại virus thuộc nhóm pox viruses có khả năng sống thời gian dài trong điều kiện thời tiết môi trường khác nhau, chịu được khô hanh, ẩm ướt và ánh sáng cả trong mùa rét. Ruồi, muỗi và các côn trùng khác là vật trung gian truyền bệnh nguy hiểm nhất. Virus có thể sống lâu đến 56 ngày trong cơ thể muỗi và được truyền cho gà qua vết muỗi cắn. Các chất thải của gà bệnh khi gà khoẻ tiếp xúc có vết xước ở da, gà bệnh mổ vào vùng quanh mắt. Virus bị diệt dễ dàng khi phun hơi nóng ẩm; formol 3% ở 200 C và hợp chất iod 1/400 làm mất hoạt tính của virus, phenol 5% chỉ 30 phút làm mất hoạt tính của virus. Bệnh đậu gà ủ bệnh từ4-10 ngày, thể hiện ở dạng khô và dạng ưót.
a)  Dấu hiệu bệnh
–  Đấu gà dạng khô (đậu ở da): Mụn vảy mọc trên da ở những chỗ không có lông, có khi có cả ở hậu môn, da trong cánh, mào, mép, quanh mắt, chân… Mụn lúc đầu sưng tấy màu hồng nhạt hoặc trắng, sau chuyển tím sẫm dần, mụn khô đóng thành vẩy dễ bong. Gà bệnh vẫn ăn uống có chút ít kém hơn bình thường, gà hay lắc đầu, vẩy mỏ do các mụn vẩy, khi chữa khỏi gà phát triển bình thường, có thể chết nhưng rất ít.
–  Đậu gà dạng ướt (đậu mọc ở niêm mạc thường gọi là difteria): Bắt đầu viêm ca ta ở miệng, họng, thanh quản, gà ho, vẩy mỏ. Các vết viêm loang dần thành các nốt phồng, niêm mạc màu hồng chuyển sang đỏ sẫm, dày dần lên và sau cùng tạo thành các lóp màng giả dính chặt vào niêm mạc làm cho gà ăn uống, thở khó khăn. Gà bị sưng mặt, sưng tích, phù thũng, mắt gà viêm có ghèn, nhớt, dần dần mắt bị lồi do tích tụ các chất đó trong hốc mắt. Mũi viêm, chảy nước mũi rồi đặc quánh lại, mặt gà sưng to. ở dạng này gà không ăn uống được, gầy và bị chết tỷ lệ cao. Có trường hợp gà bị đậu cả 2 dạng kết hợp.
b)  Biện pháp phòng và trị:
– Chủng vacxin đậu cho gà con và gà lớn theo lịch lúc 7 hoặc 14 ngày tuổi, 112 ngày tuổi; Vệ sinh chuồng, trại, khu chăn nuôi sạch sẽ khô ráo, thoáng mát; Chăm sóc nuôi dưỡng tốt; Diệt ruồi muỗi theo định kỳ.
– Chữa bệnh đậu cho gà ở dạng khô, còn ở dạng ướt nhiều, chữa khó khăn. Khi chớm bệnh, thì chủng ngay vacxin đậu cho gà khoẻ. Gà bệnh thì phải bắt chữa từng con bằng cách cạy sạch vảy mụn rồi hàng ngày bôi cồn iod, glycerin, nitrat bạc… ở dạng ướt thì dùng bông lau sạch màng giả rồi nhỏ thuốc sát trùng nhẹ, lugol hoặc glycerin. Nên cho uống kháng sinh liều nhẹ đề phòng bệnh thứ phát xâm nhập như Choloramphenicol, Tetrcayclin và vitamin A 5000 đơn vị cho looml nước.
ở gia đình có thể dùng dầu hoả bôi vào các mụn ở da sau khi đã cậy vảy. Các vảy mụn, chất rơi vào là phải đốt, tránh lây lan .
6. Bệnh tụ huyết trùng (Pasteurellosis)
Là bệnh truyền nhiễm lây lan cấp tính hay mãn tính ở gia cầm do vi khuẩn thuộc họ Pasteurella gây ra. Vi khuẩn này tồn tại trong thiên nhiên nhất là các vùng ao, ngòi lạch nước đọng, có khi ngay cả trong cơ thể gia cầm khoẻ mạnh, đặc biệt là gia cầm nuôi thả như gà ta. . . khi sức đề kháng của gà bị giảm thì bệnh phát sinh.
a) Dấu hiệu bệnh
Gà bị bệnh do thả chung đàn gà khoẻ có gà ốm tiếp xúc, thức ăn, nước uống nhiễm mầm bệnh, vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể gà qua các vết xước ở da. Gà bị bệnh ở 3 mức độ
– Thể quá cấp tính (ác tính) gà chết đột ngột không kịp thể hiên triệu chứng gì. Có khi gà đang ăn, đang ấp lăn ra chết, chỉ kịp giãy đập vài cái và kêu “quắc” . . .
– Thể cấp tính: Gà ủ rũ, sốt, bỏ ăn, xù lông, chậm chạp mào tích xanh tím, miệng có dãi, nhớt đục, sùi bọt, thở khò khè, phân loãng màu nhạt, sau chuyển màu xanh sẫm có lẫn dịch nhầy. . . Gà chết sau 24-72 giờ do kiệt sức, ngạt thở, tỷ lệ chết cao lên đến trên 50%. ở gà có hiện tượng liệt duỗi thẳng chân.
– Thể mãn tính: Gà ỉa chảy kéo dài, gầy, có khi bị sưng khớp, què, đẻ kém, tích sưng to còn gọi là bệnh tích sưng… Có hiện lượng khó thở có tiếng ran ở khí quản.
Bệnh tích ở thể cấp tính cho thấy có hiện tượng tắc rối loạn tuần hoàn ở gà bệnh, xung huyết nội tạng, xuất huyết từng đám ở cổ, đầu tim, thanh mạc phổi, mỡ bụng, niêm mạc ruột. Viêm màng bao tim. Gan sưng màu nâu vàng.
Phòng và chữa bệnh: Đối với bệnh tụ huyết trùng, phòng là biện pháp tích cực, hiệu quả nhất. Cách phòng tốt nhất là không đưa gà, vịt, ngan lạ về nuôi hoặc giết mổ trong khu chuồng trại chăn nuôi. Nếu mua giống về nuôi phải chọn nơi an toàn dịch, đưu gà về nhốt riêng 7-10 ngày sau khoẻ mạnh mới thả chung vào đàn.
b)  Phòng ngừa và trị bệnh
– Định kỳ cho phòng liều kháng sinh nhẹ: Tetracilin 250 g/tấn thức ăn, hoặc Furazolidon 300 g/tấn thức ăn, liên tục cho ăn trong 5 ngày; Tăng cường chăm sóc nuôi dưỡng bằng thức ăn có chất lượng, gà nuôi thả tăng lượng thức ăn cho ăn thêm. Lúc có dịch chọn loại xử lý gà ốm, gà chết, tách đàn gà khoẻ nhốt lại không thả, tăng cường vệ sinh, chăm sóc đàn gà bằng thức ăn, nước uống đầy đủ; Gà ốm có thể điều trị : S treptomycin 120- 150 mg/kg thể trọng kết hợp với liều Penicillin 150 mg/kg thể trọng hoặc Chlortetracyclin 40 mg/kg thể trọng gà.
7. Bệnh Marek
Là bệnh truyền nhiễm lây lan cấp tính hoặc mãn tính do virus thuộc họ Herpes virus thuộc nhóm B liên kết tế bào bắt buộc. Virus có thể tồn tại lâu trong đệm lót, bụi bặm ở chuồng gà bệnh đến 16 tuần, trong glycerin 6 tháng. Virus có ở các lỗ chân lông, bám vào vỏ trứng, được thải ở phân gà, dải đớt. Gà ốm truyền bệnh cho gà khoẻ trực tiếp tiếp xúc, hoặc qua đường hô hấp, qua vật thải, lông, dót, vỏ trứng, phân… Tuổi gà mẫn cảm với bệnh Marek. từ 4-20 tuần.
a) Dấu hiệu Có 2 dạng bệnh:
– Marek dạng cổ điển (mãn tính) thường gây ở gà lớn 3-4 tháng tuổi, thể hiện phổ biến là gà đẻ không vững dẫn đến què (liệt) 1 hay 2 chân và cánh, trường hợp nặng cả 2 chân đều liệt, một chân choãi ra đằng trước, một chân choãi ra đằng sau (hình com pa), nếu thần kinh cổ bị nhiễm thì gục đầu xuống hoặc vẹo cổ ra đằng sau. Một số gà bị viêm thần kinh mắt (Iridociclitis) ở gà lớn 9 tháng tuổi trở lên, thuỷ tinh thể bị đục, không tròn, có con bị biến dạng ra hình răng cưa, không nhìn thấy nên không ăn được, gầy, yếu, kiệt sức, chết
– Marek dạng nội tạng (cấp tính) thường ở gà con 6- 16 tuần tuổi, khối u phát triển ở hầu hết các cơ quan nội tạng như gan, lách, thận, dạ dày tuyến, ruột, buồng trứng, màng treo ruột, da, tim, túi fabricius….
Gà ốm bị kiệt sức nhanh, ỉa chảy, chết nhanh. Mổ gà ốm thấy khối u ở nội tạng, có cơ quan nội tạng to lên gấp 2-3 lần, nhất là lách và gan (nên nhiều người quen gọi nôm na là “bệnh to gan”), tỷ lệ chết 5-60%.
b)  Phòng và trị bệnh
– Phòng bệnh Marek chính là thực hiện nghiêm ngặt các biện pháp vệ sinh phòng bệnh thú y, chăm sóc nuôi dưỡng tốt. Hàng ngày quét, nhặt thu dọn lông và đốt hết vì virus tồn tại lâu trong chân lông. Tiêm phòng vacxin Marek cho gà con lúc mới nở ngay tại trạm ấp. Không nuôi gà lớn, gà con lẫn lộn. Bệnh Marek chưa có thuốc chữa trị đặc hiệu.
8. Bệnh bạch ly (samonellosis) – Bệnh thương hàn (typhus avium):
Là bệnh truyền nhiễm lây lan cấp tính hay mãn tính ở gia cầm do vi khuẩn thuộc genus Samonella gây ra. Bệnh bạch ly còn gọi là bệnh ỉa cứt trắng do vi khuẩn Sanmonella pullorum gây ra ở gà con và bệnh thương hàn do vi khuẩn Samonella gallinarum gây ra ở gà lớn. Trên thế giới có quan điểm là tách ra như trên, có quan điểm kể cả một phần châu âu thì cho là chung, thực tế là rất giống nhau nên mọi biện pháp phòng trị như một bệnh.
a)  Dấu hiệu Có 2 cách truyền bệnh:
– Truyền dọc từ mẹ sang con: Gà mẹ bị bệnh thì trứng giống nhiễm bệnh nên gà con nở ra đã nhiễm bệnh có thể chết ngay, hoặc chết trong giai đoạn ấp cuối. Những gà con sống sót là vật mang bệnh.
– Truyền ngang: Phân gà bệnh mang trùng truyền mầm bệnh làm ô nhiễm nước, thức ăn nhiễm làm lây bệnh qua miệng, hít mầm bệnh qua không khí ở máy ấp, ăn trứng nhiễm bệnh, gia súc ăn trứng và gà chết bệnh sẽ thải ra mầm bệnh trong phân, vacxin sống chế từ trứng có mầm bệnh có thể lan bệnh cho đàn gà mái khi được tiêm vacxin này.
Gà con bị bệnh nặng từ sơ sinh đến 2 tuần tuổi, tỷ lệ mắc cao nhất vào 24-48 giờ sau khi nở. Gà ủ rũ, ít vận động, mắt nửa nhắm, nửa mở, bỏ ăn, cánh sã, uống nhiều nước, ỉa chảy phân hôi khắm, có bọt màu trắng, đôi khi lẫn máu, phân bết quanh hậu môn. Mổ gà chết, ốm thấy gan, lách bị sưng có màu đỏ tím. ở lách, tim, phổi có các ổ hoại tử.
Gà lớn thường bị bệnh ở dạng ẩn (mãn tính), không thấy rõ triệu chứng, thường thấy ỉa chảy, phân bết đít, mào rụt, đẻ ít, trứng méo mó. Trường hợp bệnh ồ ạt: Gà sốt, nằm phủ phục, khát nước, mào tích tía, ỉa chảy phân loãng vàng xanh. Gà có thể chết trong 2-3 ngày. Mổ khám gà bệnh thấy gan bị xơ có các hạt hoại tử, buồng trứng viêm, nhiều trứng bị teo, trứng non dị hình, biến màu xanh xám. Trứng giống bị nhiễm bệnh thì tỷ lệ chết phôi cao, gà nở ra yếu, đa phần hở rốn, lòng đỏ tiêu hết.
b)  Phòng bênh:
–  Phòng bệnh bằng biện pháp vệ sinh thú y tổng hợp toàn bộ chuồng trại, ổ ấp, trạm ấp. các trang trại nuôi gà định kỳ kiểm tra đàn gà đẻ giống bằng phản ứng “ngưng kết” loại bỏ hết gà mái bị bệnh. ở gia đình theo dõi con mái nào thể hiện các triệu chứng trên thì loại bỏ. Cách ly nghiêm ngặt khu chăn nuôi. ở các nước đã hoàn toàn khống chế được bệnh bạch ly, các biện pháp xử lý rất nghiêm ngặt, gà bệnh có phản ứng dương tính khi kiểm tra là loại bỏ mặc dù không có triệu chứng, cách ly triệt để. Tăng cường chăm sóc nuôi dưỡng tốt đàn gà.
c) Điều trị :
–   Dùng th.uốc Choloramphenicol 50 mg/kg thể trọng trong 10 ngày, hoặc Tetracyclin 150-200 mg/kg thể trọng trong 7-10 ngày, hoặc Furazolidon 1 50-350 g/tấn thức ăn trong 7- 10 ngày.
ngày hoặc có thể theo nơi sản xuất hướng dẫn. Tẩy sán: Loại đặc hiệu là thuốc Arecolin hoặc Bromosalạxilamit (liều theo nơi sản xuất hướng dẫn). Có thể dùng loại Butynorate kết hợp

7. Bệnh Marek
Là bệnh truyền nhiễm lây lan cấp tính hoặc mãn tính do virus thuộc họ Herpes virus thuộc nhóm B liên kết tế bào bắt buộc. Virus có thể tồn tại lâu trong đệm lót, bụi bặm ở chuồng gà bệnh đến 16 tuần, trong glycerin 6 tháng. Virus có ở các lỗ chân lông, bám vào vỏ trứng, được thải ở phân gà, dải đớt. Gà ốm truyền bệnh cho gà khoẻ trực tiếp tiếp xúc, hoặc qua đường hô hấp, qua vật thải, lông, dót, vỏ trứng, phân… Tuổi gà mẫn cảm với bệnh Marek. từ 4-20 tuần.
a) Dấu hiệu Có 2 dạng bệnh:
– Marek dạng cổ điển (mãn tính) thường gây ở gà lớn 3-4 tháng tuổi, thể hiện phổ biến là gà đẻ không vững dẫn đến què (liệt) 1 hay 2 chân và cánh, trường hợp nặng cả 2 chân đều liệt, một chân choãi ra đằng trước, một chân choãi ra đằng sau (hình com pa), nếu thần kinh cổ bị nhiễm thì gục đầu xuống hoặc vẹo cổ ra đằng sau. Một số gà bị viêm thần kinh mắt (Iridociclitis) ở gà lớn 9 tháng tuổi trở lên, thuỷ tinh thể bị đục, không tròn, có con bị biến dạng ra hình răng cưa, không nhìn thấy nên không ăn được, gầy, yếu, kiệt sức, chết
– Marek dạng nội tạng (cấp tính) thường ở gà con 6- 16 tuần tuổi, khối u phát triển ở hầu hết các cơ quan nội tạng như gan, lách, thận, dạ dày tuyến, ruột, buồng trứng, màng treo ruột, da, tim, túi fabricius….
Gà ốm bị kiệt sức nhanh, ỉa chảy, chết nhanh. Mổ gà ốm thấy khối u ở nội tạng, có cơ quan nội tạng to lên gấp 2-3 lần, nhất là lách và gan (nên nhiều người quen gọi nôm na là “bệnh to gan”), tỷ lệ chết 5-60%.
b)  Phòng và trị bệnh
– Phòng bệnh Marek chính là thực hiện nghiêm ngặt các biện pháp vệ sinh phòng bệnh thú y, chăm sóc nuôi dưỡng tốt. Hàng ngày quét, nhặt thu dọn lông và đốt hết vì virus tồn tại lâu trong chân lông. Tiêm phòng vacxin Marek cho gà con lúc mới nở ngay tại trạm ấp. Không nuôi gà lớn, gà con lẫn lộn. Bệnh Marek chưa có thuốc chữa trị đặc hiệu.
8. Bệnh bạch ly (samonellosis) – Bệnh thương hàn (typhus avium):
Là bệnh truyền nhiễm lây lan cấp tính hay mãn tính ở gia cầm do vi khuẩn thuộc genus Samonella gây ra. Bệnh bạch ly còn gọi là bệnh ỉa cứt trắng do vi khuẩn Sanmonella pullorum gây ra ở gà con và bệnh thương hàn do vi khuẩn Samonella gallinarum gây ra ở gà lớn. Trên thế giới có quan điểm là tách ra như trên, có quan điểm kể cả một phần châu âu thì cho là chung, thực tế là rất giống nhau nên mọi biện pháp phòng trị như một bệnh.
a)  Dấu hiệu Có 2 cách truyền bệnh:
– Truyền dọc từ mẹ sang con: Gà mẹ bị bệnh thì trứng giống nhiễm bệnh nên gà con nở ra đã nhiễm bệnh có thể chết ngay, hoặc chết trong giai đoạn ấp cuối. Những gà con sống sót là vật mang bệnh.
– Truyền ngang: Phân gà bệnh mang trùng truyền mầm bệnh làm ô nhiễm nước, thức ăn nhiễm làm lây bệnh qua miệng, hít mầm bệnh qua không khí ở máy ấp, ăn trứng nhiễm bệnh, gia súc ăn trứng và gà chết bệnh sẽ thải ra mầm bệnh trong phân, vacxin sống chế từ trứng có mầm bệnh có thể lan bệnh cho đàn gà mái khi được tiêm vacxin này.
Gà con bị bệnh nặng từ sơ sinh đến 2 tuần tuổi, tỷ lệ mắc cao nhất vào 24-48 giờ sau khi nở. Gà ủ rũ, ít vận động, mắt nửa nhắm, nửa mở, bỏ ăn, cánh sã, uống nhiều nước, ỉa chảy phân hôi khắm, có bọt màu trắng, đôi khi lẫn máu, phân bết quanh hậu môn. Mổ gà chết, ốm thấy gan, lách bị sưng có màu đỏ tím. ở lách, tim, phổi có các ổ hoại tử.
Gà lớn thường bị bệnh ở dạng ẩn (mãn tính), không thấy rõ triệu chứng, thường thấy ỉa chảy, phân bết đít, mào rụt, đẻ ít, trứng méo mó. Trường hợp bệnh ồ ạt: Gà sốt, nằm phủ phục, khát nước, mào tích tía, ỉa chảy phân loãng vàng xanh. Gà có thể chết trong 2-3 ngày. Mổ khám gà bệnh thấy gan bị xơ có các hạt hoại tử, buồng trứng viêm, nhiều trứng bị teo, trứng non dị hình, biến màu xanh xám. Trứng giống bị nhiễm bệnh thì tỷ lệ chết phôi cao, gà nở ra yếu, đa phần hở rốn, lòng đỏ tiêu hết.
b)  Phòng bênh:
–  Phòng bệnh bằng biện pháp vệ sinh thú y tổng hợp toàn bộ chuồng trại, ổ ấp, trạm ấp. các trang trại nuôi gà định kỳ kiểm tra đàn gà đẻ giống bằng phản ứng “ngưng kết” loại bỏ hết gà mái bị bệnh. ở gia đình theo dõi con mái nào thể hiện các triệu chứng trên thì loại bỏ. Cách ly nghiêm ngặt khu chăn nuôi. ở các nước đã hoàn toàn khống chế được bệnh bạch ly, các biện pháp xử lý rất nghiêm ngặt, gà bệnh có phản ứng dương tính khi kiểm tra là loại bỏ mặc dù không có triệu chứng, cách ly triệt để. Tăng cường chăm sóc nuôi dưỡng tốt đàn gà.

c) Điều trị :
–   Dùng th.uốc Choloramphenicol 50 mg/kg thể trọng trong 10 ngày, hoặc Tetracyclin 150-200 mg/kg thể trọng trong 7-10 ngày, hoặc Furazolidon 1 50-350 g/tấn thức ăn trong 7- 10 ngày.
ngày hoặc có thể theo nơi sản xuất hướng dẫn. Tẩy sán: Loại đặc hiệu là thuốc Arecolin hoặc Bromosalạxilamit (liều theo nơi sản xuất hướng dẫn). Có thể dùng loại Butynorate kết hợp

KỸ THUẬT NUÔI ÚM VÀ CHĂM SÓC GÀ CON 1 NGÀY TUỔI

1. Chuẩn bị chuồng trại trước khi thả gà con nuôi:
– Trước khi thả gà con nuôi úm cần phải tiêu độc khử trùng chuồng úm.
– Máng ăn, máng uống: 100 con 1 máng ăn, 1 máng uống.
– Đèn úm: Cứ 100 con dùng 1 bóng đèn 75W (phải có chụp phía trên tránh thoát nhiệt).
– Chất độn chuồng: Trấu mới  khoảng 10cm.
– Bạc che: Cho xung quanh toàn bộ khu vực úm, phía trên (dùng 1 tấm bạc dài kéo dài chừa 2 ra hai bên để cho thông thoáng).
– Không nên dùng nguồn nhiệt là bếp than hay chụp sưởi để úm gà vì rất dễ gây thiếu Oxy                    gà dễ bị bệnh về đường hô hấp.
– Không nên dùng bạt, nilon che đậy kín trên đỉnh quây úm vì gà rất dễ bị thiếu Oxy, thừa khí thải (CO2, NH3, H2S) và ẩm độ.
* Yêu cầu quan trọng giai đoạn này là gà cần:
– Đủ nhiệt, ấm nhưng phải thông thoáng
– Bóng đèn có chụp phía trên.
–  Máng ăn uống đầy đủ.
–  Bạc che xung quanh.

2. Cách nhận biết tình trạng nhiệt độ trong chuồng

– Gà nóng: Nằm tản ra xung quanh đèn.
– Gà lạnh: Nằm chồng lên nhau hay tụ dưới đèn.
– Gió lùa: Gà nằm tụ về một phía.
* Tốt nhất! Gà nằm đều toàn bộ chuồng.

3. Quây úm và mật độ gà con.
a) Vây úm:
+ Gà con tập trung gần nguồn nhiệt, gà bị lạnh. Nếu gà tản ra xa nguồn nhiệt, trạng thái nháo nhác, khát nước, gà bị quá nóng cần phải giảm nhiệt độ. Gà tụm lại một phía là bị gió lùa, cần phải che kín hướng gió thổi.
+ Khi đủ nhiệt, gà con vận động, ăn uống bình thường, ngủ nghỉ tản đều.
b) Độ ẩm chuồng úm
Tốt nhất ở mức từ 60 – 75% để hơi nước trong phân bay nhanh, nên phân khô, gà khỏe mạnh.
– Úm trên lồng trong 2 tuần đầu có thể nuôi với mật độ 50 con/m2 từ ngày thứ 5 tăng diện tích vùng quây đảm bảo mật độ nuôi khoảng 20 – 25 con/m2 để gà có thể di chuyển một cách thoải mái đến máng ăn, máng uống.
-Mùa nóng có thể bỏ quây từ ngày 14 để chúng tự do chạy khắp chuồng úm. Điều này khuyến khích gà con được ăn tự do và sẽ phát triển nhanh.

b) Mật độ(số gà trên diện tích 1m2 chuồng nuôi):

_  Mật độ chuồng nuôi thích hợp theo tuần tuổi như sau:
Ngày tuổi :1-10 ngày nhốt 40-50 con.
11-30 ngày nhốt 20-25 con.
31-45 ngày nhốt 15-20 con.
46-60 ngày nhốt 12-15 con.
*Yêu cầu nhiệt độ chuồng úm

Bảng 1 : Nhiệt độ tại vùng ủ úm phải phù hợp với độ tuổi của gà con (oC)
Ngày tuổi     Chuồng có chụp sưởi    Nhiệt độ chuồng nuôi bằng hơi ấm
Nhiệt độ tại chụp úm     Nhiệt độ chuồng nuôi
0-3    38    28-29     31-33
4-7     35     28      31-32
8-14     32      28       29-31
15-21     29      25         28-29
_ Nhiệt độ sưởi:
1-3 tuần nhiệt độ sưởi 30-32°C.
3-6 tuần nhiệt độ sưởi 25-28°C.
6-8 tuần nhiệt độ sưởi 20-22°C.
Sau 8 tuần nhiệt độ sưởi 18-20°C.
Tuỳ theo mùa vụ và hiện trạng đàn gà mà điều chỉnh nhiệt sưởi cho thích hợp. nếu gà tụm lại xung quanh nguồn nhiệt, kêu chiêm chíp không ăn là thiếu nhiệt. Gà tản xa nguồn nhiệt, há miệng thở là thừa nhiệt. Gà đi lại nhanh nhẹn ăn uống bình thường là nhiệt thích hợp. Nếu gà tụm lại một góc thì phải quan sát có gió lùa hay không.
_ Yêu cầu về ánh sáng.
Tuần đầu úm gà con cần chiếu sáng 24 giờ/ ngày, từ tuần thứ 2 trở đi sẽ giảm 1 giờ chiếu sáng trong ngày/ tuần cho đến khi thời gian chiếu sáng trong ngày còn 12 giờ ổn định suốt thời kỳ sinh trưởng.
Thời gian chiếu sáng và cường độ ánh sáng rất quan trọng đối với gà con. Nếu sử dụng được nguồn chiếu sáng sẽ có tác dụng làm tăng đòi hỏi về thức ăn, kích thích cơ thể phát triển mà không làm giảm hậu quả sử dụng thức ăn. Người ta thường dùng bóng đèn treo cách nền chuồng 2,5m với cường độ chiếu sáng (w/m2 chuồng) như sau:
1-20 ngày tuổi: 5 w/m2.
21-40 ngày tuổi: 3 w/m2.
41-66 ngày tuổi: 1,4 w/m2.
Thời gian chiếu sáng từ 1-2 tuần lễ đầu là 24 giờ/24 giờ. Sau đó cứ 1 tuần giảm đi 20-30 phút.

5.Chuẩn bị thuốc úm:

– Khi nhập gà về cần : Pha Vitamine C + điện giải     chống mất nước trong thời gian vận chuyển
* Chú ý gà mới về có thể chưa biết uống nước nên bước đầu có thể tập bằng một số cách:
+ Bắt một số con đưa miệng vào máng nước cho biết vị trí, gà sẽ uống những ngụm nước đầu tiên.
+ Dùng máng ăn, pha nước âm ấm để giữa chuồng(nước không quá nóng,hay quá lạnh18-21°C),gà sẽ tự động lên máng nước và uống… Sau 2 tiếng mới bắt đầu cho gà ăn thức ăn.
6.Cách pha nước thuốc cho gà:
-Đọc hướng dẫn trên bao bì: 1g /1 lít nước,không nên tự ý dùng tăng liều tránh trường hợp gà dể lờn thuốc
Có nghĩa: 1gram thuốc pha trên 1 lít nước/toàn bộ số lượng nước uống trong 1 ngày.
– Dựa vào lượng thức ăn để tính tương đối lượng nước pha cho gà: có thể gà ăn 1 uống 2 ( ngày ăn 25kg thức ăn thì khả năng uống 50 lít nước).
-Biết được lượng nước trong 1 ngày ta dựa vào liều lượng trên hướng dẫn bao bì và pha cho uống với lượng nước trong vòng 4-6 tiếng.
*   ví dụ: Ngày uống 50 lít nước.
-Lượng thuốc yêu cầu: 1g/1 lít nước = 50 gram
-Lượng nước trong 4-6 giờ khoảng 10-15 lít nước.
Vậy: Pha 50 gram thuốc với 10-15 lít nước cho gà uống trong vòng 4-6 giờ.
-Ngày uống 1 lần…liên tục 3-5 ngày với kháng sinh.
cầu trùng uống 3 ngày,nghĩ 2 ngày,uống tiếp 2 ngày.

7.Tập ăn cho gà con:

-Thông thường gà mới nhập về cho uống nước có pha vitamin C và điện giải trước…Có thể tập ăn cho gà sau 2 giờ bằng những cách sau đây: Rải thức ăn trực tiếp lên hộp giấy
– Cho gà ăn thành nhiều lần trong ngày, không được đổ cám quá nhiều làm thức ăn thừa, tích lại rồi lại đổ thức ăn mới lên -> dễ bị ô nhiễm, mầm bệnh phát triển gây tiêu chảy, ngộ độc.
– Chất lượng: phù hợp dinh dưỡng cho từng lứa tuổi, luôn bổ sung men tiêu hoá giúp gà dễ tiêu hoá và tăng tỷ lệ hấp thu
Lúc phối hợp thức ăn nên trộn ít để ăn một vài ngày, không nên trộn nhiều ăn lâu hết, thức ăn bị biến chất, mốc, xuất hiện độc tố A-fra-tốc-xin rất hại cho đàn gà.
Những loại thức ăn chiếm tỷ lệ ít như khoáng, nguyên tố vi lượng, vitamin nên trộn đều trước rồi mới trộn với các loại thức ăn khác sau.
Bảng  2: Công thức phối trộn các loại nguyên liệu thức ăn.
Tên nguyên liệu    % theo trọng lượng     Ghi Chú
– Ngô đỏ(hoặc vàng)     50    -Ngoài nguyên liệu sẵn có ở địa phương chỉ mua bổ sung thêm:
-Premix khoáng
– Premix Vitamin
– Lyzine và methiomin
– Cám gạo tốt     13
Khô dầu đậu tương hoăc lạc nhân      12
Đỗ tương rang tán nhỏ     12
Bột cá nhạt hay tép khô     10
Bột sò hay bột xương     1.5
Premix khoáng và vitamin     1.0
Muối ăn( NaCl )     0.2
Lyzine     0.1
Methionine     0.2
8.Thời gian pha thuốc có thể áp dụng như sau:
-Khi nhập gà tính từ ngày đầu tiên,sau 6 tiếng -12 tiếng đầu:uống Vitamin C + điện giải + Đường.
-Gà ngày thứ 2 – 3 -4 -5 vào buổi sáng (6h-12h)cho gà uống: kháng sinh
-Chiều + Tối: Nước có pha thuốc bổ (ADE, Vitamin B Complex, C..)

CÁCH NUÔI DƯỠNG CHĂM SÓC GÀ HIỆU QUẢ

Trước khi nuôi gà con cần phải nắm bắt được các thông tin về nguồn gốc đàn gà, uy tín của trại giống và nắm vững đặc tính năng suất của đàn gà sắp nuôi; đồng thời phải chuẩn bị chuồng trại đạt tiêu chuẩn. Tuy nhiên không phải hộ chăn nuôi nào cũng nắm rõ được các yêu cầu và kiến thức của việc này. Thông qua thông tin tư vấn dưới đây của chuyên gia Công ty cổ phần GreenFeed Việt Nam, hy vọng các hộ chăn nuôi có thêm kinh nghiệm để có đàn gà mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất.

1. Công tác chọn gà con

Chỉ chọn những gà con khỏe mạnh, độ đồng đều cao, phản ứng nhanh nhẹn, không bị dị tật, mỏ và chân vững chắc, màng da chân bóng.

2. Chuồng trại và trang thiết bị

– Chuồng úm cho gà con có kích thước: 2m x 1m x 0,5m đủ để nuôi 100 con. Nên bố trí chuồng ở đầu hướng gió, cách xa chuồng gà trưởng thành. Dọn vệ sinh, sát trùng và để trống chuồng ít nhất 2 tuần trước khi nuôi đợt mới.
– Chuẩn bị đầy đủ chụp sưởi bằng bóng đèn điện có công suất 60 – 100W, treo cách nền chuồng 30 – 40cm.

3. Nước uống

– Nước là nhu cầu đầu tiên của gà con. Để tăng sức đề kháng trong những ngày đầu cho gà con bằng cách pha vào nước 5g đường glucoza + 1g vitamin C/1 lít nước uống.

4. Thức ăn và cách cho ăn

Tùy theo giống gà với tốc độ sinh trưởng khác nhau mà nhu cầu dinh dưỡng sẽ khác nhau. Hiện nay sản phẩm gia cầm thịt, Công ty GreenFeed có thiết kế cho dòng gà thịt thương phẩm và gà thả vườn lông màu.
Sau khi gà con mới nở phải cho uống nước, sau 2 giờ mới được bắt đầu tập ăn. Cho gà ăn tự do để kích thích gà ăn nhiều và ăn hết số lượng trong ngày, tuần đầu: 5 – 6 lần/ngày, sau đó giảm còn 3 – 4 lần/ngày.
– Để tránh cho thức ăn rơi vãi gây mất vệ sinh, nên đổ lên máng ăn một lượng nhỏ thức ăn, khi gà con ăn hết lại đổ vào tiếp.

5. Chăm sóc và nuôi dưỡng

Nhiệt độ úm gà con
+ Gà con tập trung gần nguồn nhiệt, gà bị lạnh. Nếu gà tản ra xa nguồn nhiệt, trạng thái nháo nhác, khát nước, gà bị quá nóng cần phải giảm nhiệt độ. Gà tụm lại một phía là bị gió lùa, cần phải che kín hướng gió thổi.
+ Khi đủ nhiệt, gà con vận động, ăn uống bình thường, ngủ nghỉ tản đều.

Ẩm độ chuồng úm, chế độ chiếu sáng
Tốt nhất ở mức từ 60 – 75% để hơi nước trong phân bay nhanh, nên phân khô, gà khỏe mạnh.
Tuần đầu úm gà con cần chiếu sáng 24 giờ/ ngày, từ tuần thứ 2 trở đi sẽ giảm 1 giờ chiếu sáng trong ngày/ tuần cho đến khi thời gian chiếu sáng trong ngày còn 12 giờ ổn định suốt thời kỳ sinh trưởng.
Mật độ chuồng úm, tránh cắn mổ
– Úm trên lồng trong 2 tuần đầu có thể nuôi với mật độ 50 con/m2 từ ngày thứ 5 tăng diện tích vùng quây đảm bảo mật độ nuôi khoảng 20 – 25 con/m2 để gà có thể di chuyển một cách thoải mái đến máng ăn, máng uống.
– Để tránh hiện tượng cắn mổ, bới thức ăn làm rơi vãi gây lãng phí, ta nên cắt mỏ cho gà con vào lúc gà được 10 – 21 ngày tuổi. Cắt mỏ trên của gà ở khoảng ½ từ ngoài vào, mỏ dưới chỉ đốt nóng đầu mỏ để hạn chế phát triển.

6. Quy trình phòng bệnh
– Trước khi nuôi úm gà con cần phải tiêu độc khử trùng chuồng úm.
– Trong 3 ngày đầu cho uống kháng sinh phòng một số bệnh như thương hàn, CRD, viêm rốn và E.coli. Nên hòa thuốc vào nước uống có kèm theo vitamin A, D, E và Bcomplex nhằm tăng sức đề kháng cho gà con.
– Nếu gà con hở rốn sát trùng bằng cồn iot 0,5% hoặc dung dịch blue metylen 1%.

ĐẶT CÂU HỎI TẠI ĐÂY ?

Tên của bạn (bắt buộc)

Số điện thoại

GHI CÂU HỎI